Thứ 311212017

Last update03:36:58 PM

Thực trạng và phân tích đánh giá công tác xây dựng, tích hợp dữ liệu trong lĩnh vực đất đai Thành phố Hà Nội.

Thành phố Hà Nội hiện nay có diện tích 3300 Km2 sau khi hợp nhất thành phố Hà Nội ( cũ ) với Tỉnh Hà Tây (cũ). Do địa bàn rộng, tình hình phát triển kinh tế xã hội ở thủ đô đang diễn ra rất tích cực và phong phú. Điều này đang gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý hành chính của Thành phố nói chung và đặc biệt trong lĩnh vực đất đai nói riêng.

Với số lượng thửa đất khoảng hơn 1,5 triệu thửa, công tác quản lý đất đai  trên địa bàn thành phố luôn phức tạp và khó khăn. Các nội dung quản lý đất đai đô thị như quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thanh kiểm tra sử dụng đất, cấp đất, cho thuê đất luôn là những vấn đề nóng, nếu không có cơ sở dữ liệu quản lý đất đai thì việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai ở Thủ đô sẽ khó khăn, vất vả.

 Nắm bắt được xu thế phát triển của thủ đô, công tác quản lý đất đai đòi hỏi càng ngày càng phải được hiện đại hóa, nâng cao năng suất và hiệu quả quản lý nhà nước, ngay từ những năm 1990, nhiều Dự án, đề tài nghiên cứu thử nghiệm về cơ sở dữ liệu đất đai tích hợp trong quản lý đô thị của Thành phố đã được thực hiện.

Kết quả thực hiện các Dự án, đề tài này là cơ sở quan trọng để Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội từng bước xây dựng hệ thống thông tin quản lý đất đai bằng công nghệ hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý hành chính về đất đai trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

Trong giai đoạn tới, Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội đã từng bước thống nhất các cơ sở dữ liệu đất đai nhỏ lẻ hiện có đã xây dựng ở một số địa phương để đồng bộ hóa thành một hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai chung trong cả Thành phố bằng Dự án xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính dạng số. Dự án này kết hợp với Dự án Vlap (  hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai ) sẽ tạo thành một cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ phục vụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về đất đai ở Thành phố Hà Nội.

Kết quả Dự án là một cơ sở dữ liệu số về đất đai đồng bộ thống nhất của toàn Thành phố, khi được tích hợp với các cơ sở dữ liệu quản lý đô thị khác như hạ tầng giao thông, quy hoạch đô thị, xây dựng .v.v. Hệ thống trên sẽ tạo nên một công cụ đắc lực giúp các nhà quản lý khai thác nguồn tài nguyên số này để phục vụ cho các mục tiêu quản lý đô thị mang lại hiệu quả cao nhất.  

Dưới đây là một đề xuất mô hình tích hợp dữ liệu quản lý đất đai cho Hà Nội.(nguồn từ Báo cáo khả thi Dự án UrbisHanoi2010 - ứng dụng GIS trong quản lý đô thị Hà Nội )

Hình 1 bên dưới  thể hiện 3 giai đoạn  triển khai mô hình tích hợp dữ liệu quản lý đất đai trong quản lý đô thị Hà Nội. 

 

    Giai đoạn 1 : Thực hiện URBIS REF.0 xử lý dữ liệu nền địa lý ở mức độ cơ bản gồm dữ liệu nền ranh giới Thành phố, quận(huyện), phường (xã) 

 

    Giai đoạn 2 : thực hiện URBIS REF.1  tăng dày dữ liệu nền địa lý, bổ sung thêm nhiều thông tin dữ liệu gồm:

 

Khu vực đô thị:

Khu vực nông thôn:

-      Số liệu mức thành phố

-      Số liệu mức quận

-      Số liệu mức phường

  • § Số liệu về phố
  • § Số liệu về mặt phố

-    Số liệu mức quận

-    Số liệu mức quận

Làng (Xóm) = Chỉ hiển thị tên

 

    Giai đoạn 3 (song song với giai đoạn 2) : Xây dựng cơ sở dữ liệu nền chi tiết đến từng thửa đất, từng căn nhà với bản đồ địa chính tỷ lệ lớn. 

 

Với khu vực đô thị:

Với khu vực nông thôn:

-      Số liệu mức quận

-      Số liệu mức phường

-      Số liệu về phố

  • § Trục phố
  • § Mặt tiền

-    Khối phố

-    Thửa đất

-    Địa chỉ

-    Nhà

-    Sân

-    Số liệu cấp huyện

-    Số liệu về xã

-    Số liệu về làng / Xóm = Chỉ thể hiện địa chỉ 

-    Số liệu về đường(Trục đường) 

-    Thửa đất

-    Nhà

*/ Mô tả lớp dữ liệu địa lý cho từng giai đoạn

 

Lớp đơn vị hành chính  (ĐVHC) thực hiện trong giai đoạn I (URBIS REF.0 ) được thể hiện ở hình 2. Các thuộc tính cho các lớp này là thông tin chung như  DVHC, mã  DVHC, dân số, diện tích, thống kê nhà ở, các số liệu thống kê kinh tế xã hội cần cho nhiều ứng dụng và tra cứu thông tin trong quản lý đô thị.

 

                           Hình 2: Lớp ĐVHC phường và quận của Hà Nội

                               Lớp đơn vị hành chính phường

Hình 3 phía dưới mô tả chi tiết lớp thông tin thửa đất  như tên tờ bản đồ, tên thửa, chủ sử dụng, loại đất...

                                         Hình 3: Lớp thửa đất

Hình 4  ví dụ về lớp Nhà, là đối tượng khép kín; thuộc tính của nó được kết xuất từ bản ghi thửa đất như số hiệu, kiểu nhà, tầng cao,...

                                           Hình 4: Lớp nhà

Hình 6 lớp trục số có dạng tuyến. Thuộc tính gồm tên phố, và các thông tin lựa chọn khác. Các thông tin này không có trong CSDL địa chính và cần phải thu thập. 

                                       Hình 6: Lớp trục phố

Hình 7 cho thấy lớp mặt tiền. Dạng polyline, các thuộc tính chứa các thông tin về số nhà đầu và cuối phố. 

                                  Hình 7: Lớp trục phố và lớp mặt tiền  

Hình 8 lớp khối phố là đối tượng vùng đóng kín; tin thuộc tính gồm số khối, số hộ, các thông tin thống kê … 

                                  Hình 8: Lớp ô phố “Block”   

Hình 9 lớp ảnh viễn thám. Trong nhiều ứng dụng, nó rất cần thiết và hữu dụng khi kết hợp các lớp véc tơ với lớp ảnh viễn thám .

                 Hình 9: Lớp véc tơ trục phố chồng lên lớp ảnh viễn thám  

Hình 10, lớp bản đồ nền địa hình, phụ thuộc vào các mục đích khác nhau, tích hợp bản đồ địa hình sẽ cho nhiều ứng dụng trong nghiên cứu ứng dụng khác nhau. Với khu vực nội thành, đô thị sử dụng bản đồ địa hình đồ tỷ lệ 1/2000 làm nền.  Với khu vực ngoại thành sử dụng bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25000.

  Hình 10: Sơ đồ bảng chắp phân mảnh tờ bản đồ tỷ lệ 1/25.000, 1/5.000 và 1/2000

                  Hình 11: Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/2.000, khu vực nội thành

                         Hình 12: Bản đồ địa hình Hà Nội tỷ lệ 1/25.000

Hình 13 dưới đây là mô hình tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai trong quản lý đô thị .

1: Hệ thống quản lý; 2: Kho csdl mã nguồn mở trên Web; 3: Cộng đồng người sử dụng

4: Quản lý chiến lược; 5: Quản lý vận hành; 6: Khai thác;

7: Phần cứng, phần mềm; 8: Dữ liệu, 9: Ứng dụng; 10: Dịch vụ.

11: Các sở ban ngành Hà nội; 12: Cơ quan hành chính Nhà nước;

13: Các nhà đầu tư; 14: Các chủ hộ; 15: Các viện nghiên cứu. 

 

Mô hình này sẽ dựa trên một số nguyên tắc của chính phủ điện tử “e-government” như được định nghĩa sau đây:

Nguyên tắc nguồn thông tin xác thực: Thông tin quản lý được giao cho các cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm cho việc cập nhật (khởi tạo và sửa đổi) thông tin.

Nguyên tắc thu thập duy nhất: Dữ liệu được làm sẵn cho cơ quan hành chính  khác mà không còn phải yêu cầu các công dân hoặc công ty tư nhân.

Nguyên tắc phối hợp: Quá trình quản lý thường được xác định. Tất cả các thành viên trong các quá trình có một sự hiểu biết rõ ràng về giá trị gia tăng của các hoạt động mà họ có trách nhiệm trong việc đạt được mục tiêu chung.

Sử dụng công nghệ thông tin mới: Điều đó có thể giúp đỡ để phát triển và thực hiện các cách thức mới để hợp tác và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện của dự án với chi phí thấp hơn cho chính quyền.

Hình 24 mô tả khung khái niệm của URBIS HANOI. Nó được tạo thành từ 3 khối chính:

- Việc thực hiện quản lý hệ thống kiểm soát việc (thu thập dữ liệu, phát triển hệ thống), sự vận hành và các  đặc điểm chiến lược của các dịch vụ sẽ được chuyển giao,

- Các trang web dựa trên nền tảng riêng của mình, cơ sở dữ liệu và những dịch vụ chuyên dụng và các ứng dụng,

Hình 14 dưới đây thể hiện kiến trúc cơ bản và các quan hệ giao thức giữa các nhân tố và nền tảng thông qua internet.

 

1: Sở QHKT ; 2: Sở Xây dựng; 3:Sở tài chính; 5: Viện qui hoạch; 6: Các cơ quan HC khác. 7: Công truy cập URBIS Hà nội; 8: Cổng các công cụ mã nguồn mở (Cung cấp; Tiếp nhận dữ liệu); Lưu lượng hoạt động phuc dịch vụ người dùng); 9: Chỉ mục; 10: Ban chỉ đạo. Chức năng: Xác định mục tiêu và ưu tiên;  hợp thức các bước thực hiện (URBIS REF.0 đến URBIS REF.2; Sử dụng thiết bị và cơ chế dữ liệu (ai có thể làm gì, các khía cạnh sử dụng) ; 11: TTCNTT TN&MT; 12: Phòng Đo đạc & Bản đồ; 13: Mạng lưới thu nhận dữ liệu; 14: Truy cập dữ liệu; 15: Dịch vụ ứng dụng; 16: Thông tin di động.

 

Các giải pháp tích hợp dữ liệu ( URBIS Hà Nội )  có chức năng hoàn toàn dựa trên các thành phần mã nguồn mở. Tuy nhiên, sự lựa chọn các thành phần mã nguồn mở sẽ được thực hiện với một mục đích rõ ràng để đảm bảo tính bền vững hệ thống và xây dựng năng lực thông qua chuyển giao công nghệ hiệu quả cho các chuyên gia của thành phố Hà Nội.

 Hệ thống kiến trúc mô hình tích hợp dữ liệu ( URBIS HÀ NỘI  ) bao gồm một số module độc lập. Do đó, việc triển khai thực hiện có thể phát triển thuận lợi, và bắt đầu với máy chủ bản đồ, và sau đó người xem và như vậy cho đến khi hoàn thành đầy đủ các giải pháp. Như đã thấy trong hình 15  các chức năng sẽ được tập hợp lại thông qua các phân hệ chức năng: danh mục, người xem, phương thức, cho phép tái sử dụng trong các dự án khác. 

 1: Bộ phận QLHC; 2: Hệ thống quản lý nội dung; 3: Công cụ tham chiếu; 4: Chỉ dẫn danh mục

5: Thu nhận dữ liệu; 6: Xem dữ liệu; 7: Trình duyệt Intrernet; 8: Kết xuất; 9: Xuất bản dữ liệu.

                             Hình 26: Cấu trúc chức năng URBIS Hanoi  

N.V.H